Đăng ký tham quan
Vui lòng nhập tên
Invalid Input
Email không hợp lệ
Vui lòng nhập số lượng người tham gia
Vui lòng chọn ngày
Vui lòng nhập số điện thoại.
Invalid Input
  

Tin Tức - Sự Kiện

GIỚI THIỆU SÁCH LỊCH SỬ CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (1945 – 2015)

Trong suốt quá trình lịch sử từ đấu tranh giải phóng dân tộc đến khi giành được độc lập, thống nhất, bắt tay vào xây dựng, phát triển đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh đã vượt qua muôn vàn khó khăn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Song song với đó là quá trình hình thành, phát triển về tổ chức và hoạt động của chính quyền thành phố qua các thời kỳ lịch sử.

Đọc thêm

Kỷ niệm 77 năm Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945 - 23/9/2022) NAM BỘ KHÁNG CHIẾN BIỂU TRƯNG VỀ Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Sự kiện Nam Bộ mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân và toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn 1945-1954 đã đi vào lịch sử của dân tộc ta, thể hiện rõ khát vọng cháy bỏng và ý chí không có gì lay chuyển được của quân và dân ta vì nền độc lập, thống nhất Tổ quốc. Cách đây 77 năm, quân và dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược lần thứ hai với khí phách anh hùng, với quyết tâm “thà chết tự do còn hơn sống nô lệ” để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, tạo điều kiện cho Trung ương Đảng, Chính phủ và Nhân dân cả nước có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài.

Sau Quốc Khánh 2/9, Đoàn đại biểu Xứ Uỷ đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và Phái đoàn Tổng bộ Việt Minh vừa về đến Nam Bộ. Tin vui đầu tiên làm nức lòng tin tưởng và ý chí chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng trong quân và dân Nam Bộ là được biết đến chủ tịch Hồ Chí Minh tức lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Còn ta chịu thương lượng với Pháp là để có thời gian thêm chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

Sở dĩ Pháp chịu ngồi thương lượng với ta ở Sài Gòn là để chờ đại binh của chúng từ chính quốc đến… Trong đàm phán, chúng luôn nói là Pháp sẽ trở lại Đông Dương đã rồi sau đó sẽ nói chuyện tự trị như De Gaulle đã hứa hẹn. Nhưng chỉ thương lượng trên cơ sở nước Pháp công nhận quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Mặt khác, đi đôi với đánh phá bằng võ trang, giặc Pháp còn âm mưu bắt cóc, thủ tiêu cán bộ lãnh đạo Thành, Xứ ủy của ta. Đêm 22/9 quân Pháp dùng vũ lực chiếm Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, trụ sở quốc gia tự vệ cuộc, Nhà đèn, trụ sở Bưu điện, Đài phát thanh, các bót chính ở trung tâm thành phố. Cuộc chiến bắt đầu lúc 10 giờ hôm đó.

Rạng sáng ngày 23/9/1945, được sự giúp đỡ của quân đội Anh, thực dân Pháp chính thức bội ước, cho hàng ngàn lính nổ súng tấn công, đánh chiếm lại trung tâm thành phố Sài Gòn, chính thức mở ra cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Xứ ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Kháng chiến Nam bộ và Đại diện Tổng bộ Việt Minh đã thống nhất ra Lời kêu gọi đồng bào cầm vũ khí đánh đuổi quân xâm lược. Nam Bộ bước vào cuộc chiến trực diện với kẻ thù.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Nam Bộ “muôn người như một” anh dũng đứng lên với tinh thần quyết chiến, “tự do và ý chí quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Ngay chiều 23/9, cả Sài Gòn - Chợ Lớn hừng hực khí thế chiến đấu, thực hiện bất hợp tác với Pháp, tiến hành “vườn không nhà trống”, quyết bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Ủy ban kháng chiến Nam Bộ chia Sài Gòn - Chợ Lớn, Gia Định thành 5 mặt trận: Mặt trận Nội thành và 4 mặt trận (Thị Nghè; Bà Điểm - Tham Lương; Phú Lâm; Nhà Bè - Cần Giuộc) xung quanh nội đô. Mỗi mặt trận bố trí các đơn vị vũ trang, được bổ sung quân số và trang bị thêm vũ khí, chuẩn bị mọi mặt, phối hợp chặt chẽ với các tầng lớp nhân dân sẵn sàng nổi dậy. Ở mặt trận Nội thành, chiến lũy được lập nên khắp các phố phường. Các đội tự vệ chiến đấu nhanh chóng được thành lập. Chỉ trong thời gian ngắn, ta tổ chức 320 đội tự vệ chiến đấu, bố trí 16 khu vực tác chiến trong thành phố và một số tiểu đội vũ trang tập trung tuần tra, canh gác các công sở. Khu ngoại thành và các tỉnh lân cận được tổ chức những đội tự vệ chiến đấu và du kích làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ chính quyền.

Để đối phó với tình thế nước sôi lửa bỏng, Xứ Uỷ cũng đã chỉ đạo Tổng Công đoàn thành phố vận động công nhân lao động tháo gỡ và di chuyển máy móc cơ khí để sử dụng cho công binh xưởng, in ấn… đưa ra chiến khu Đ và Đồng Tháp Mười để chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Xứ Uỷ còn đề ra các chủ trương cấp bách: Tăng cường các Đội xung phong Công đoàn thanh niên và “Quốc gia tự vệ cuộc”. Đội xung phong thanh niên thì tuyên thệ ở trụ sở Chaner và nhiều nơi khác, thề hy sinh bảo vệ Tổ quốc. Tổ chức mặt trận bí mật ở 16 tiểu khu. Tăng cường chuẩn bị cứu thương, thuốc men và dầu xăng để đốt những nơi cần đốt. Tập trung ở nhiều nơi những cưa, búa để chuẩn bị phá hoại những chổ đã tính trước. Mặt trận nội thành tổ chức bảo vệ cơ quan chính quyền, đoàn thể và bao vây 4 mặt không cho địch ra khỏi Sài Gòn. Các cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Chữ Y, cầu Tân Thuận, đường bộ vào chợ Lớn ra Bà Quẹo đều bố trí lực lượng của ta…

4 ngày sau ngày 23-9 nhân dân Nam Bộ lại được huấn lệnh của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng Hòa “Lòng cương quyết, dũng cảm của nhân dân Nam bộ chống lại quân đội xâm lăng của Pháp chẳng những đã cho đồng bào toàn quốc cảm phục mà lại chứng tỏ cho thế giới biểu chí quyết tâm độc lập của nhân dân Việt Nam”

Cuộc kháng chiến này còn thực hiện chủ trương của Đảng ta là tập trung đánh mạnh quân Pháp ở Nam Bộ, quyết tâm giành thắng lợi ở chiến trường Nam Bộ để tạo điều kiện cho việc đấu tranh với quân Tưởng ở miền Bắc. Nhân dân Hà Nội, các tỉnh miền Bắc, miền Trung liên tiếp xuống đường hô vang khẩu hiệu “Phản đối thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ”, “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, “Tất cả cho Nam Bộ kháng chiến”… Cùng lúc đó, nhiều đơn vị quân Nam tiến đã lên đường vào Nam Bộ, để sát cánh cùng nhân dân Nam Bộ kháng chiến.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Nam Bộ sục sôi ý chí chiến đấu, xông pha mặt trận quyết chiến với kẻ thù xâm lược. Được Trung Ương và cả nước cổ vũ, các chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ vô cùng phấn khích càng thêm quyết tâm đoàn kết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.

Đến cuối tháng 9, vòng vây địch ở Sài Gòn càng thêm thắt chặt. Trên các mặt trận Cầu Bông, Cầu Kiệu, Khánh Hội, Xóm Chiếu, Đa Kao, các đội xung phong đã tập kích tiêu diệt nhiều lính Anh, Pháp bằng quyết tâm: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ một lần nữa.”

Ghi nhận và biểu dương tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất của quân và dân Nam Bộ, tháng 2/1946, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng đồng bào Nam Bộ danh hiệu vẻ vang: “Thành đồng Tổ quốc”.

Qua sự kiện đó, ta thấy được bản lĩnh, trí tuệ, yêu nước của nhân dân Nam Bộ và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta cùng với nhân dân cả nước đoàn kết, hợp lực, chiến đấu bảo vệ nền độc lập cho dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam từ đất nước bị chiến tranh đến hòa bình thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đưa nhân dân Việt Nam từ gông xiềng nô lệ thành người làm chủ nước nhà. Thời gian đã 77 năm ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945 – 23/9/2022), nhưng tinh thần, tầm vóc, giá trị lịch sử và hiện thực của kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ở Nam Bộ đã để lại những kinh nghiệm sâu sắc và bài học lịch sử rất quý giá vẫn còn mang nhiều giá thực tiễn sâu sắc, cần được nghiên cứu, kế thừa, phát huy và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hội nhập.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2022

Huỳnh Thị Kim Loan

Phòng Truyền thông – Giáo dục và Quan hệ quốc tế

Tài liệu tham khảo:

  1. 1.Trần Văn Giàu, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1998, tập 1, tr.356.
  2. 2.Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 3, tr.91-92, NXB Chính trị Quốc gia, 2008.

LỄ CÚNG ĐÌNH - HỘI LÀNG TRUYỀN THỐNG NAM BỘ

Ở nông thôn Nam Bộ trước đây, miền Đông cũng như miền Tây, lễ cúng đình hằng năm, còn gọi là lễ Kỳ yên, được coi là lễ hội phổ biến nhất (làng nào cũng tổ chức) và lớn nhất, mà ở đó còn lưu giữ khá đậm nét những đặc điểm tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Vốn có gốc gác từ vùng đất cội nguồn - nền văn minh sông Hồng, lễ cúng đình trong quá trình di chuyển dọc theo duyên hải miền Trung, rồi vào đồng bằng sông Cửu Long, tuy có thay đổi nhiều chi tiết (như thời gian mở lễ hội, đối tượng thờ phụng ở nơi đình làng, cách tổ chức lễ bái, cúng kiếng, lời khấn trong văn tế cùng các hình thức hội hè, hát xướng, vui chơi, thi đấu... sau đó, là lễ cúng thần) nhưng đều có chung một ý nghĩa và đặc điểm của một hội làng nông nghiệp cổ truyền. Cúng đình là một sinh hoạt văn hóa định kỳ mang tính tổng hợp và tính cộng đồng tiêu biểu nhất của xã hội nông thôn người Việt ở cấp độ cộng đồng xã hội cơ sở là làng. Lễ cúng đình diễn ra ở nơi sinh hoạt công cộng tiêu biểu nhất, nơi một thời đã là địa điểm hội họp và giải quyết những công việc chung của làng xã đồng thời cũng là nơi thờ thần Thành Hoàng.

Thành Hoàng, theo quan niệm dân gian, là vị thần cai quản toàn thôn xã, che chở, phù hộ cho mọi người dân sống bình yên, làm ăn phát đạt, thịnh vượng. Vị thần ấy từ nguyên sơ có thể là nhân vật có tên cụ thể, hoặc tên tuổi đã bị mờ chìm trong ký ức; các vị ấy được Vua phong sắc (thượng, trung hay hạ đẳng thần), hoặc tuy không có sắc phong nhưng đã được dân làng mặc nhiên tôn thờ, lưu truyền qua nhiều thế hệ như một nhân vật có công to lớn nhất đối với làng nước. Về vấn đề này Nhà sử học Đào Duy Anh có nhận xét: “đối với dân làng ,Thành Hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp luật và hy vọng của làng, đồng thời cũng là một thứ quyền uy siêu việt, một liên lạc vô hình khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ”. Ngoài ra, đình làng ở Nam Bộ còn thờ các vị tiền hiền, hậu hiền có công mở đất, đặt nền móng cho cuộc sống từ buổi sơ khai của làng và trở thành vị phúc thần, theo quan niệm “Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ”.

Như chúng ta đã biết đình làng ở Nam Bộ có lịch sử hình thành khá muộn so với Bắc Bộ và Trung Bộ. Nếu như ở vùng châu thổ sông Hồng, không hiếm những đình làng có niên đại xây dựng từ thời Lê, thì những ngôi đình xưa nhất ở Nam Bộ còn quan sát được cũng chỉ ở tuổi đời trên 200 năm. Đa số đình làng ở Nam Bộ cũng không có thần tích, thần phả như đình phía Bắc. Trong nhiều bản sắc phong của triều Nguyễn cho các đình làng - mà phần lớn đều ra đời vào triều Thiệu Trị và Tự Đức, đặc biệt nhiều nhất là thời kỳ Tự Đức thứ 5 (1852) đều không rõ tên thần. Lời văn trong sắc phong chỉ nói chung chung: “Thành hoàng bổn cảnh” với những mỹ từ kèm theo “Ta nay vâng theo mệnh sáng của trời, nghĩ tới đức tốt của thần, tặng thêm là thần Quảng hậu, Chánh trực, Hựu thiện, Đôn nghi” (nghĩa là rộng lớn, ngay thẳng, khoan thứ, trọng hậu).

Trong khuôn viên đình làng ở Nam Bộ, người ta còn đặt bàn thờ, hoặc am thờ một số vị thần như: Thần nông, Thổ địa, Thổ công, Thần cây, Thần rừng, Thần biển, bà Ngũ Hành, bà Nương Nương... việc cúng tế hàng năm tại đình cũng không hoàn toàn giống nhau. Có nơi chỉ tổ chức một kỳ lễ cúng đình hằng năm, gọi là lễ Kỳ yên. Cũng có nơi tổ chức hai kỳ Xuân tế và Thu tế. Ngày xuân tế chuyển thành lễ Hạ điền và Thu tế chuyển thành lễ Thượng điền. Xu hướng chung về sau này, người ta chỉ tổ chức mỗi năm một Kỳ yên, coi như lễ hội quan trọng nhất của làng. Nhiều nơi có tập quán tổ chức vào rằm tháng Giêng âm lịch, lúc này thời tiết khô ráo, lại có trăng tỏ. Nhìn chung, ngày hội ở từng làng có thể xê xích nhau, nhưng thường được tổ chức vào mùa xuân, vì lúc này mùa màng đã thu hoạch xong, thời tiết khô ráo, cảnh quan đẹp đẽ, việc đi lại thuận tiện, dễ dàng, đó là những yếu tố rất cần cho không khí hội làng thêm sôi nổi, vui tươi, thoải mái ở vùng đất vốn có hai mùa mưa nắng rõ rệt.

Khi cúng thần, vị chủ tế thay mặt dân làng cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, làng xóm yên vui, không có trộm cướp, hỏa hoạn, dịch tể hoành hành, vừa tỏ lòng tri ân những vị có công với dân với nước theo đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”. Nhưng nếu chỉ có vậy, lễ cúng đình chưa đủ yếu tố để trở thành hội làng tiêu biểu hằng năm, bởi vì ngoài việc biểu thị tín ngưỡng dân gian còn phải đáp ứng nhu cầu vui chơi, đua tài, giải trí, tìm hiểu, giao duyên, kể cả tổ chức ăn uống... Đó là những nhu cầu đích thực của dân quê khi mở hội làng. Chính vì vậy mà mọi người mới nhiệt tình, tự nguyện tham gia tổ chức hội thật công phu từ khâu chuẩn bị dọn dẹp, sửa sang địa điểm, đến việc tự nguyện đóng góp cho lễ hội: vật cúng, hương hoa, tiền thuê gánh hát bội, thuê dàn nhạc lễ, tiếp khách, chiêu đãi ăn uống...Với ngày hội làng, cuộc sống tưởng như im lìm, lắng đọng ở nơi thôn dã bỗng chốc được đánh thức và sôi động hẳn lên sau những hồi chiêng trống dòn dã. Già trẻ lớn bé trong làng trở nên hớn hở và trang nghiêm trong những bộ y phục ngày hội. Lễ hội lấy con người làm đối tượng phục vụ, lấy Đất - Trời làm khuôn mẫu. Văn hóa ấy mang bản sắc dân tộc và giản dị nhưng giàu tính thực tiễn của người nông dân gắn bó chặt chẽ với đồng ruộng, mùa màng,...

Quy mô tổ chức lễ to hay nhỏ còn tùy thuộc vào làng giàu hay làng nghèo, đông dân hay ít dân, gặp năm trúng mùa hay thất mùa; nhưng thông thường lễ hội ở đình làng diễn ra 3 ngày 2 đêm. Việc cúng tế được tiến hành nơi trang nghiêm nhất: nhà bái đường và chính đường; còn hội diễn ở nhà võ ca, các trò chơi, giải trí khác được tổ chức ở sân và xung quanh đình. Ngày đầu là lễ Túc yết vã lễ Tiền vãng (tức cúng tế các vị “tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ” và những người có công với dân với nước). Chủ tế cuộc lễ là vị chánh bái, có sự giúp sức của một số phụ tế và bồi tế. Tất cả lễ, nhạc, dâng hương, dâng trà, dâng rượu, đọc văn tế, vái lạy đều phải đúng theo lời của người thủ xướng. Đội học trò (lễ sinh) mặc áo, đội mũ, mang hia theo kiểu Tú tài ngày xưa được thành lập thuần thục các cách đi đứng, biểu diễn, dâng lễ vật theo nhịp phách của dàn nhạc diễn tấu khi tế lễ. Lễ Túc Yết còn có bốn cô đào hát mừng thần trong lúc dâng rượu. Ở những đình làng có sắc của Vua phong thì có thêm mục lễ “mở sắc thần” vào giữa đêm đầu tiên. Lễ được tiến hành trong làng khói hương trầm nghi ngút, trong tiếng nhạc lễ cổ truyền, có các vị bô lão đầu vấn khăn đen, mặc áo dài đứng trang nghiêm hai bên bàn thờ thần, mắt hướng về hộp đựng sắc phong như đang hồi tưởng lại công lao, sự nghiệp của những người có công khai mở đất đai, xây dựng cuộc sống từ buổi đầu.

Lễ chánh tế được tiến hành vào giữa đêm thứ hai. Bài văn tế thường được viết sẵn với lối văn biền ngẫu xưa mà nội dung nhằm ca ngợi trời đất và các thần linh, thổ võ đã phù hộ dân làng, nhắc lại công tích, sự nghiệp qui dân, lập ấp, phát triển sản xuất, xây dựng dời sống của các bậc tiền hiền, hậu hiền cùng bao người vô danh khác. Người đọc văn tế (ngày xưa qui định là các chức hương văn của làng) giọng đọc trang nghiêm, chậm rãi xướng lên trong nhạc đệm của dàn nhạc lễ.

Mở đầu cho buổi hát xướng tại nhà võ ca (nếu đình không có nhà võ ca thì dựng tạm rạp ở nơi sân đình) là lễ Xây chầu - Đại bội, tức là nghi thức đánh trống cầu cho trời đất thuận hòa (Xây chầu) và một tiết mục gồm 5 diễn viên trình bày nhiều trường đoạn hát múa, cầu chúc bốn mùa phong thuận theo một số nghi thức đã định sẵn (Đại hội). Các tuồng hát bội trong lễ cúng đình phải do một vị chức sắc, hoặc người uy tín trong làng, am hiểu về nội dung tuồng tích cũng như nghệ thuật thể hiện, ngồi cầm chầu. Hát hay, động tác đúng quy cách, có sáng tạo thì diễn viên được người cầm chầu bên dưới điểm trống khen dòn dã và được thưởng tiền. Hát dở, hát sai quy cách thì bị chế bai bằng những tiếng “cắc” gõ vào tang trống, có khi diễn viên bị phạt vạ lôi thôi chỉ vì một lời hát có những từ “phạm húy” động đến vua chúa, thần linh.

z3736704960234 388125b43609f83974bf53dc55b5c887

Một nghi thức cúng lễ Kỳ yên ở đình Tân An (Long An)

Phần “hội” là phần sôi động, tươi vui nhất của lễ cúng đình, thu hút toàn bộ dân cư vào sinh hoạt văn hóa cộng đồng, gần như không thiếu vắng một ai. Trong những ngày hội mọi người đều ăn mặc, trang điểm lịch sự, đi lại, vui chơi, giao tiếp thân tình, thoải mái sau những ngày tháng lao động cực nhọc. Họ tự do xem hát tuồng, tham gia trò chơi, thi đấu, ăn uống vui vẻ...trong khung cảnh làng quê thanh bình, trật tự. Theo tập quán lâu đời, những người đi xem tế lễ và dự hội đều giữ tư cách, nề nếp, biểu thị sự hiểu biết, đứng đắn, không say sưa, càng quấy hay nói năng thô tục.

Ngày nay, ở thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố khác vẫn diễn ra lễ cúng đình ngay giữa khu vực trung tâm đô thị như đình Nhơn Hòa, đình Chí Hòa, đình Tân Hòa Đông, đình Phú Nhuận, đình Thông Tây Hội...nghi thức trong lễ hội ở các nơi này thường được điều chỉnh, thêm bớt ít nhiều để phù hợp với môi trường đô thị, nhưng về mặt ý nghĩa của lễ hội vẫn không thay đổi.

Trong không khí độc lập, tự do và thanh bình, lễ hội đình làng, một sinh hoạt văn hóa truyền thống, mang đậm tinh thần đạo lý, nhân văn của dân tộc, đó là nơi thể hiện sự mong muốn một cuộc sống tốt đẹp, thể tinh thần đoàn kết, tâm thức luôn hướng về nguồn cội tổ tiên và đặc biệt là thể hiện đậm nét bản sắc dân tộc, đã và đang được phục hồi ở nông thôn và cả ở nơi đô thị là một điều đáng mừng. Tuy nhiên cũng như mọi di sản văn hóa cũ xưa khác, lễ hội đình làng bên cạnh mặt tích cực, lành mạnh được bảo tồn và lưu truyền đến ngày nay, cũng còn bao hàm một số yếu tố hạn chế, thậm chí lạc hậu, không còn phù hợp với nhận thức của con người trong cuộc sống văn minh, hiện đại. Vấn đề là phải biết chắt lọc, kế thừa và phát huy những phần tinh hoa, những nét đẹp, những gương sáng của người xưa và loại bỏ những yếu tố tiêu cực như mê tín, lợi dụng lòng tin của nhân dân, lợi ích nhóm, thương mại hóa, làm giảm đi ý nghĩa giản dị, trong sáng, truyền thống của văn hóa dân gian.

z3736706009360 14d453c9495fa8bcf43df2fa407842e1

Lễ Thay khăn Sắc Thần trong Lễ Kỳ Yên đình Bình Thủy (Cần Thơ)

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2022

Võ Cư

Phòng Truyền thông, Giáo dục và Quan hệ Quốc tế

Tài liệu tham khảo:

1. Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội).

2. Đình Nam bộ xưa và nay của Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường (1999)

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ sẽ là điểm đến hấp dẫn với du khách

Qua giám sát thực tế các phòng trưng bày hiện vật, bảo tồn di sản, đoàn đánh giá cao công tác quản lý, nghiên cứu, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cách mạng của phụ nữ miền Nam theo chủ đề các tư liệu được trưng bày, bổ sung thường xuyên.

bao-tang-1 runz

Các thành viên đoàn giám sát tham quan phòng trưng bày áo dài truyền thống lịch sử của phụ nữ miền Nam trong các cuộc kháng chiến cứu nước

Sáng 15-9, Đoàn giám sát Ban Văn hóa - Xã hội, HĐND TPHCM do Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội, HĐND TPHCM Cao Thanh Bình làm trưởng đoàn, đã có cuộc giám sát về bảo tồn di sản và cảnh quan kiến trúc đô thị trên địa bàn TPHCM gắn với hoạt động của Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ.

Qua giám sát thực tế các phòng trưng bày hiện vật, bảo tồn di sản, đoàn đánh giá cao công tác quản lý, nghiên cứu, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cách mạng của phụ nữ miền Nam theo chủ đề các tư liệu được trưng bày, bổ sung thường xuyên như: Phụ nữ miền Nam “Anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang”, “Cỏ lau thép trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”, “Nữ chiến sĩ giao liên miền Nam”…

baotang-1 efah

Bà Nguyễn Thị Thắm, Giám đốc Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ báo cáo tình hình hoạt động với đoàn giám sát

Hiện Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ đang lưu giữ trên 40.000 hiện vật theo 12 bộ sưu tập, như: Nghệ sĩ Thanh Nga trên sân khấu cải lương; bộ sưu tập vải thêu, gùi các dân tộc Tây Nguyên; cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên; trang phục các dân tộc ở miền Nam; tư liệu nữ tù…

Đoàn giám sát cũng ghi nhận những khó khăn, kiến nghị của Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ về kinh phí đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm hiện vật, các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu, bảo tồn giá trị di sản, không bán vé tham quan cho du khách và các đối tượng đến tham quan, học hỏi, tìm hiểu giá trị di sản…

baotang-3 kkfh

Các thành viên đoàn giám sát tham quan phòng trưng bày dụng cụ sản xuất, sinh hoạt của phụ nữ Nam bộ

Theo đồng chí Cao Thanh Bình, để Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, cần có sự phối hợp tốt giữa các địa phương, các ngành liên quan, đặc biệt là kết nối hoạt động du lịch theo tour, tuyến; tăng nguồn thu cho bảo tàng bằng hình thức bán vé, thu phí tham quan; phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, học tập của du khách, học sinh, sinh viên và mở rộng các hoạt động liên kết giữa các địa phương trong quảng bá, giới thiệu hình ảnh người phụ nữ Nam bộ và TPHCM trong đời sống của một đô thị hiện đại, phát triển.

HOÀI NAM