Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hình ảnh người mẹ Việt Nam luôn là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước, ý chí kiên trung trong chiến đấu và sự bền bỉ, hy sinh trong đời thường. Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Một là một minh chứng tiểu biểu cho những mất mát lớn lao nhưng cũng đầy vẻ vang của người phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Trong những năm tháng kháng chiến ở miền Nam, Cần Giuộc (Long An) là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, nổi tiếng với tinh thần bất khuất, nơi ghi lưu dấu những chiến công chống ngoại xâm. Chính mảnh đất ấy đã sinh ra nhiều thế hệ anh hùng trong đó có Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Một.
Mẹ Việt Nam Anh Hùng Nguyễn Thị Một sinh ngày 20/2/1918, tên khai sinh là Nguyễn Thị Nho, thường gọi Nguyễn Thị Một (bí danh Ba Chi). Quê quán ở làng Long Đức Đông, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An, một làng nằm ở phía Đông thị trấn Cần Giuộc và cách Sài Gòn 20 km. Mẹ sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, cha là Nguyễn Văn Hộ, mẹ là Phan Thị Bộ.
Từ nhỏ, Mẹ đã sớm trải qua những khó khăn của cuộc sống. Mẹ học đến lớp nhì, Đốc học trường Cần Giuộc thấy Mẹ học giỏi và mồ côi nên cho Mẹ học bổng tại trường Phú Lâm và ở nội trú. Nhưng gia đình quá nghèo không đủ khả năng sắm sửa theo qui định của trường nên Mẹ buộc phải nghỉ học. Từ đó, Mẹ sớm trở thành lao động chính của gia đình. Chính những trải nghiệm đó đã hun đúc trong Mẹ tinh thần yêu nước và sự cảm thông sâu sắc với thân phận người nông dân bị áp bức, bóc lột.
Con đường cách mạng đến với Mẹ như một lẽ tất yếu. Được người anh rể là đồng chí Lê Hồng Vũ cùng gia đình định hướng, Mẹ sớm tham gia hoạt động cách mạng. Năm 15 tuổi, Mẹ đã làm giao liên và tham gia công tác tuyên truyền. Năm 16 tuổi, Mẹ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến năm 1934, Mẹ giữ chức Bí thư Chi bộ xã, và chỉ một năm sau trở thành Huyện ủy viên Cần Giuộc, một bước trưởng thành vượt bậc của người nữ cán bộ trẻ.
Trong giai đoạn 1934–1935, Mẹ cùng các tổ chức nông hội tham gia nhiều cuộc đấu tranh đòi quyền lợi cho nông dân như tăng tiền công cấy, công gặt và đã giành được thắng lợi, được báo chí cách mạng ghi nhận và đăng lên báo “Búa Liềm” của tỉnh. Những năm 1936–1939, khi Mặt Trận Bình Dân Pháp lên cầm quyền và đưa phái bộ sang điều tra tình hình Đông Dương, nhận thấy tình hình chính trị có phần thuận lợi, Mẹ tích cực tham gia diễn thuyết, tuyên truyền, vận động đồng bào cùng với một số đồng chí tại Nhà hát Thành Xương và Tân Định và các tỉnh lân cận, đưa ra yêu sách, tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn chủ tư sản trong các cuộc mít tinh chào đón hai quan chức thực dân nhằm góp phần nâng cao nhận thức cách mạng trong nhân dân.
Cuối năm 1937, Mẹ thoát ly gia đình, được Xứ ủy phân công về Trà Vinh xây dựng và phát triển phong trào cách mạng. Năm 1939, được sự đồng ý và chấp thuận của các đồng chí lãnh đạo và hai bên gia đình Mẹ lập gia đình với đồng chí Trương Văn Bang, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ giai đoạn (1933 – 1934). Hôn lễ tổ chức tại Cần Giuộc, cuộc hôn nhân của hai người là sự kết hợp giữa tình cảm và lý tưởng cách mạng.
Tháng 8 năm 1940, trong bối cảnh cách mạng gặp nhiều khó khăn, nhiều cán bộ bị bắt, Mẹ đang mang thai vẫn kiên trì hoạt động. Đến ngày 8 tháng 2 năm 1941, khi Mẹ chuyển dạ sinh con cũng là lúc chồng Mẹ bị địch bắt. Bi kịch cá nhân hòa vào thử thách chung của cách mạng, càng thể hiện rõ nghị lực phi thường của người phụ nữ.
Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Mẹ giữ vai trò quan trọng tại địa phương. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Cần Giuộc, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công. Mẹ được giao phụ trách một tiểu đội vũ trang tại mặt trận Cầu Thị Yên – Cần Giuộc, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung, giải quyết việc nhân dân thiếu đói tạo sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
Sau ngày độc lập, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược (23/9/1945), Mẹ tiếp tục tham gia kháng chiến với vai trò Bí thư Chi bộ xã Long Đức Đông và Huyện ủy viên. Mẹ phụ trách công tác hậu cần, vận động lương thực, vũ khí, tổ chức lực lượng phục vụ chiến đấu. Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Mẹ cùng phụ nữ địa phương phát động nhiều phong trào như “Mùa đông binh sĩ”, vận động may vá, đan áo, vận chuyển lương thực, đào địa đạo, góp phần xây dựng hậu phương vững chắc cho tiền tuyến.
Năm 1948, Mẹ tiếp tục đắc cử vào Hội Phụ nữ cứu quốc Nam Bộ, phụ trách các tỉnh miền Đông. Đến năm 1949, Hội Phụ nữ cứu quốc thống nhất thành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Mẹ tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng chính trị và mở rộng hoạt động.
Đầu năm 1952, trong điều kiện chiến tranh khốc liệt và thiên tai, bão lụt ở miền Đông, quan ta gặp khó khăn về lương thực kéo dài, Mẹ vừa nuôi con nhỏ vừa bám trụ công tác, vượt qua muôn vàn gian khổ. Có thời điểm, Mẹ phải mang theo con sơ sinh (mới sinh được 3 tháng) băng rừng, đối mặt với hiểm nguy, bệnh tật và thiếu thốn. Đó là những thử thách khắc nghiệt nhưng cũng làm sáng lên phẩm chất kiên cường của người phụ nữ cách mạng.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, chồng và hai con của Mẹ tập kết ra Bắc, còn Mẹ ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động. Cuộc chia ly ấy là một trong những mất mát lớn nhất của đời Mẹ, nỗi đau thầm lặng nhưng cao cả của người mẹ đặt lợi ích dân tộc lên trên tình cảm riêng.
Giai đoạn 1955 – 1959, Pháp rút quân, Mỹ nhảy vào xâm lược Việt Nam lập nên chính quyền Ngô Đình Diệm phát xít độc tài thi để tiến hành đàn áp phong trào cách mạng với chiến dịch tố cộng và luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam. Mẹ tiếp tục hoạt động bí mật tại Sài Gòn với vai trò giao liên, binh vận. Với quyết tâm bảo vệ đồng bào và các chiến sĩ cách mạng, bà đã phát động tinh thần căm phẫn trong lực lượng cảnh sát trước hành động tàn bạo của kẻ thù trong vụ thảm sát tù chính trị tại Phú Lợi. Từ đó, dưới sự lãnh đạo và ủng hộ của tổ chức, bà cùng đồng đội tổ chức hai cuộc đấu tranh tuy quy mô không lớn nhưng đạt hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của phong trào cách mạng. Ngày 28 tháng 8 năm 1959, Mẹ bị bắt. Dù bị tra tấn dã man, Mẹ vẫn kiên cường giữ vững khí tiết. Tòa án địch kết án Mẹ 20 năm khổ sai.
Trong suốt 15 năm tù đày, Mẹ bị giam giữ tại nhiều nhà lao như Gia Định, Chí Hòa, Phú Lợi, Thủ Đức, Côn Đảo… Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt, Mẹ vẫn tiếp tục đấu tranh, giữ vững tinh thần cách mạng.
Năm 1974, đồng chí được trao trả tù binh tại Lộc Ninh và gặp lại hai người con. Cuộc đoàn tụ với các con sau nhiều năm xa cách là khoảnh khắc xúc động sâu sắc, khép lại một chặng đường đầy hy sinh.
Khi đất nước thống nhất, Mẹ và chồng là đồng chí Trương Văn Bang được Đảng điều động về công tác tại miền Nam. Năm 1976, đồng chí được phân công tham gia Ban phụ vận Trung ương và đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI. Cuối 1978 đồng chí nghỉ hưu.
Trong suốt cuộc đời hoạt động, Mẹ Nguyễn Thị Một đã đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng như: Cán bộ Việt Minh huyện Cần Giuộc (1945), Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc (1948), Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Tỉnh ủy Long An.
Với những cống hiến to lớn, Mẹ được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:
- Huân chương Hồ Chí Minh
- Huân chương Quyết thắng hạng Nhất
- Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất
- Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng
- Huy chương “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”
Cuộc đời của Mẹ Nguyễn Thị Một là một tấm gương sáng về lòng trung kiên, đức hy sinh. Người con ưu tú của quê hương Long An trung dũng kiên cường, người cán bộ nữ bất khuất, nhân hậu, người đảng viên đảng Cộng sản đã nhiều lần bị địch bắt cầm tù, bị lưu đày ở địa ngục trần gian Côn Đảo nhưng vẫn một lòng kiên trung, bất khuất, tận tụy với nước, tận hiếu với dân, luôn giữ vẹn lời thề sắt son với Đảng, vẫn trong xanh như dòng sông Vàm Cỏ anh hùng. Mẹ là biểu tượng tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh xứng đáng với 8 chữ vàng được Bác Hồ khen tặng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 04 năm 2026
Người viết
Đào Thị Hồng Quyên
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Thị Một. Cuộc đời của mẹ – gia tài các con. TP.HCM: NXB Trẻ, 1997.
- Bà Nguyễn Thị Một, nguyên Chánh văn phòng Xứ ủy Nam bộ: Chân dung người phụ nữ “Bất khuất, trung hậu, đảm đang”. https://congly.vn/ba-nguyen-thi-mot-nguyen-chanh-van-phong-xu-uy-nam-bo-chan-dung-nguoi-phu-nu-bat-khuat-trung-hau-dam-dang-777.html



English