GIỚI THIỆU TẬP SÁCH: ĐÀNG TRONG – LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA

Trên cả nước hiện nay có 7 thành phố lớn trực thuộc trung ương. Trong đó, vùng đất vốn xưa kia là xứ Đàng Trong đã có đến 4 thành phố lớn với sự phát triển hết sức năng động. Thực tế đó không phải là sự ngẫu nhiên mà xuất phát từ một nền tảng kinh tế – xã hội đã được hình thành từ nhiều thế kỷ trước.

Nghiên cứu lịch sử dân tộc vào những thế kỷ XVII – XVIII, ai cũng có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai vùng miền đất nước mà lịch sử gọi là Đàng Ngoài – Đàng Trong.

Từ hai châu Ô, Lý được Chế Mân dùng làm sính lễ cưới Huyền Trân vào đầu thế kỷ XIV đã trở thành trấn Thuận Quảng, miền biên viễn của Đại Việt giữa thế kỷ XVI mà Nguyễn Hoàng đã chọn làm lối thoát cho mình trước sự rắp tâm trừ khử của người anh rể với quyền lực đầy mình, như một vết dầu loang lở mang bờ cõi về phương Nam trong suốt thời kỳ tồn tại của các chúa Nguyễn, để rồi một xứ Đàng Trong trù phú đã được hình thành từ đó.

Như một lẽ đương nhiên, các chúa Nguyễn không thể không vươn dài tầm kiểm soát của mình trước những cơ hội xem ra khá thuận lợi về cả ba yếu tố là Thiên – Địa – Nhân để có được một tiềm lực đủ sức đối phó với họ Trịnh ở phía Bắc đang hùng hổ ngày đêm muốn “ăn tươi nuốt sống” mình. Và cũng như một lẽ thường tình “cá gặp nước” các chúa Nguyễn đã mặc sức vẫy vùng, tạo nên một Đàng Trong mang đầy tính đặc thù, không giống những gì có tính khuôn mẫu, truyền thống lâu đời như ở Đàng Ngoài của chính quyền vua Lê – chúa Trịnh. Ở vùng đất vốn hoang nhàn nhưng rộng mênh mông bát ngát này, với những con người đang cố vùng vẫy, thoát khỏi sự kìm tỏa của nhà nước phong kiến, những kẻ “tha phương cầu thực” chẳng biết sợ là gì, những người Hoa từ phương Bắc xa xôi đến đây xin cư trú vì lý do chính trị, và cả những người Khmer được xem là cư dân bản địa đang sống rải rác ở vùng châu thổ Cửu Long,… họ là những con người vốn “thích tự do” mà đến đây sinh sống,… Tự sâu thẳm đã có điều gì khác hẳn trong mỗi con người cộng với môi sinh ở vùng đất này đã tạo nên nhiều sự khác biệt với những vùng đất khác.

Sự cộng hưởng của những yếu tố trên đã hình thành nên những đặc thù về kinh tế – xã hội của xứ Đàng Trong suốt hơn hai thế kỷ để rồi nó được xem là cơ sở cho sự phát triển kinh tế – xã hội và cả văn hóa ở những thời kỳ sau.

Đặc điểm kinh tế – xã hội ở Đàng Trong thế kỷ XVII – XVIII là một đề tài thực sự hấp dẫn và lôi cuốn nhiều người. Nghiên cứu vấn đề này giúp chúng ta có thể nhận thức đúng đắn về lịch sử dân tộc ở thời kỳ chế độ phong kiến hình thành và phát triển với những nét chung cũng như đặc thù từng giai đoạn. Đặc biệt giúp chúng ta xóa bỏ những cái nhìn định kiến trong việc đánh giá công lao và tội trạng của các cá nhân, các tập đoàn phong kiến trong lịch sử dân tộc mà đã có thời chúng ta rất nặng nề và cực đoan trong cách nhìn nhận về lịch sử.

Hiểu sâu sắc về lịch sử Đàng Trong, nhất là về phương diện kinh tế – xã hội sẽ giúp chúng ta có tầm nhìn chiến lược đúng đắn để hoạch định các chính sách kinh tế – xã hội phù hợp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội đất nước ngày càng phát triển thuận lợi hơn, có kế hoạch khai thác những tiềm năng vốn có của từng địa phương, vùng miền, làm cho đất nước sớm vượt qua những rào cản, những khó khăn và thách thức để đi lên. Nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, việc khai thác những yếu tố kinh tế năng động của khu vực “Đàng Trong” sẽ góp phần thúc đẩy sự giao lưu kinh tế thế giới đạt hiệu quả.

Lịch sử cho hay, sự bất hòa giữa hai dòng họ Trịnh – Nguyễn sau khi Nguyễn Kim bị đầu độc đã đưa Nguyễn Hoàng “vào Nam” trấn thủ Thuận Hóa, một vùng biên viễn có lắm rủi ro và nguy cơ rình rập. Nguyễn Hoàng “vào Nam” trước hết là sự vượt thoát khỏi âm mưu tận diệt của người anh rể Trịnh Kiểm và rồi với tài năng vượt trội cùng các yếu tố Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa đã đưa ông lên vị thế người khai mở cơ nghiệp cho dòng họ Nguyễn ở phía Nam. Năm 1558 trấn thủ Thuận Hóa, năm 1570 kiêm nhận trấn thủ Quảng Nam, vùng đất cực Nam nước Đại Việt lúc bấy giờ. Năm 1600, sau khi thoát khỏi sự kìm tỏa của Trịnh Tùng (cháu gọi Nguyễn Hoàng là cậu ruột), từ Thăng Long trở về Thuận Quảng, Nguyễn Hoàng đã tỏ rõ ý định ly khai và biến Thuận Quảng thành vùng đất cát cứ để xây dựng cơ nghiệp lâu dài chống lại họ Trịnh (đang tiếm quyền vua Lê). Trên tinh thần đó, năm 1611, nhân danh quân đội Đại Việt (triều Lê), Nguyễn Hoàng đưa quân vào dẹp yên cuộc khởi loạn của người Chăm để rồi lập nên phủ Phú Yên, kéo dài cương vực nước ta đến đèo Cả. Năm 1613, Nguyễn Hoàng mất sau khi để lại cho con trai Nguyễn Phúc Nguyên lời di huấn sâu sắc, tạo nên động lực mạnh mẽ cho công cuộc “Nam tiến”. Tiếp nối các đời chúa Nguyễn đã khai chiếm và mở rộng lãnh thổ từ Thuận Quảng vào đến Cà Mau. Cho đến năm 1757 thì công cuộc mở cõi về phương Nam cơ bản đã hoàn thành. Đối với vùng đất Nam Bộ ngày nay, từ năm 1698, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Hữu Cảnh đã kinh lược phía Nam và lập nên phủ Gia Định, chính thức xác lập chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất mới vốn thuộc quyền quản lý của Phù Nam rồi Chân Lạp. Trong quá trình định hình môi sinh xã hội và cơ nghiệp của họ Nguyễn ở phía Nam đã tạo nên sự biến đổi mạnh mẽ trên nhiều phương diện theo xu hướng càng về phương Nam thì các yếu tố cả về chính trị, kinh tế, xã hội lẫn văn hóa càng mang tính “mở”.

Quá trình xác lập chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất phía Nam diễn ra và cùng với nó là sự ly khai của họ Nguyễn khỏi sự cai quản của chính quyền vua Lê – chúa Trịnh. Trước hiện tượng “bất phục” của họ Nguyễn, nhất là từ năm 1620, khi Nguyễn Phúc Nguyên ngừng nộp thuế cho chính quyền Lê – Trịnh và không ra chầu. Tháng 3 năm 1627, Trịnh Tráng đưa quân vào đánh Nguyễn và từ đó khởi đầu cho thời kỳ “Trịnh – Nguyễn phân tranh”. Sau đó, bảy cuộc đại chiến khởi phát từ hai phía mà chủ yếu là từ họ Trịnh đã kéo dài 45 năm làm cho dân tình khốn khổ, đất nước suy yếu. Đến năm 1672, khi cả hai bên không thể nào đánh bại được đối phương, đành phải ngừng cuộc chiến và thỏa thuận lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt lãnh thổ, phía Nam sông Gianh thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn và được gọi là Đàng Trong, phía bắc sông Gianh vẫn thuộc quyền cai quản của vua Lê – chúa Trịnh và được gọi là Đàng Ngoài. Cục diện này tồn tại cho đến tháng 12 năm 1774, khi quân Trịnh vượt sông Gianh đánh chiếm Phú Xuân, chúa Nguyễn đã phải bỏ chạy vào Quảng Nam rồi vào Gia Định.

Quân Trịnh vượt sông Gianh, đánh chiếm Phú Xuân trong bối cảnh cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đang diễn ra mạnh mẽ và tấn công vào triều đình chúa Nguyễn trước sự lộng hành của quyền thần Trương Phúc Loan. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn phát triển thành phong trào, cuối cùng đã đánh bại họ Trịnh, làm sụp đổ triều Lê ở Đàng Ngoài; tiêu diệt cơ bản thế lực Nguyễn ở Đàng Trong; bảo vệ nền độc lập dân tộc trước sự xâm lược của quân Xiêm, Thanh. Nhưng do phải đương đầu với nhiều thế lực, cũng như nội bộ sớm bất hòa, quân Tây Sơn đã bị Nguyễn Ánh tiêu diệt hoàn toàn và thống nhất giang sơn. Lịch sử Việt Nam đã bước sang trang mới.

Quá trình định hình và phát triển vùng đất Đàng Trong là cả một quá trình “nhân đôi đất nước” của dân tộc Việt Nam, nâng tầm vị thế quốc gia Đại Việt trên trường quốc tế. Đàng Trong vẫn luôn là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dẫu chủ trương xây dựng một vương triều độc lập ở phía Nam và từng bước ly khai khỏi chính quyền Lê – Trịnh ở phía Bắc, song về danh nghĩa, các chúa Nguyễn vẫn dùng tước chúa và ấn “Tổng trấn tướng quân”, tức là vẫn đặt mình trong quan hệ thần thuộc triều Lê. Ngay cả khi Nguyễn Phúc Chu thay ấn vào năm 1708 cũng chỉ khắc “Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh trấn chi bảo”. Cho đến năm Giáp Tý (1744), sau khi xuất hiện câu sấm truyền “Bát đợi hoàn Trung Đô”, Nguyễn Phúc Khoát mới quyết định xưng vương và cho đúc “Quốc vương chi ấn”, cải tổ Tam ty thành Lục bộ và một triều đình phong kiến như kiểu nhà Lê mới được hình thành. Bấy giờ, toàn bộ lãnh thổ Đàng Trong được chia thành 12 dinh và 1 trấn với hệ thống hành chính hoàn chỉnh.

Nông nghiệp và thủ công nghiệp Đàng Trong phát triển gắn với quá trình khai phá vùng đất phía Nam đã tạo nên một nguồn hàng lúa gạo vô cùng phong phú để cung cấp cho thị trường rộng lớn trong và ngoài nước. Nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển cùng với tư tưởng khuếch thương của các chúa Nguyễn đã biến Đàng Trong thành một thị trường năng động, đáp ứng tốt yêu cầu cuộc giao thương quốc tế Đông – Tây thế kỷ XVII – XVIII để tạo nên bức tranh kinh tế Đàng Trong sôi động và hội nhập.

Cuộc sống cộng cư của các tộc người, bản địa có, di cư có, “khách trú” có,… đã góp phần tạo nên phức hệ văn hóa vừa lan tỏa với tinh thần Việt hóa, vừa tiếp biến và dung hòa các sắc thái văn hóa để tạo nên những nét đặc sắc riêng có của xứ Đàng Trong. Các chúa Nguyễn vẫn mong giữ được truyền thống của cha ông, xây dựng một thể chế tập quyền trên nền tảng đạo Nho song lực bất tòng tâm, điều kiện của buổi đầu khai mở chưa đáp ứng được sự mong mỏi của giới cầm quyền, và trong bối cảnh đó, Phật giáo có điều kiện để trở thành chỗ dựa tinh thần của dân chúng (và cả quan lại nữa) ở Đàng Trong, và cũng trong tinh thần viên dung, thoáng mở đó mà Thiên Chúa giáo từng bước tạo lập được vị thế của mình trên mảnh đất Đàng Trong.

Tập sách Đàng Trong – Lịch sử và văn hóa đến tay bạn đọc không phải là một công trình chuyên khảo. Những bài viết trong tập sách này chỉ là những mảnh ghép của bức tranh chưa hoàn chỉnh về lịch sử xứ Đàng Trong trong hơn hai thế kỷ tồn tại với mong muốn góp thêm được phần nào vào sự cảm nhận, đánh giá của bạn đọc thêm phần thỏa đáng về những gì liên quan đến lịch sử và văn hóa Đàng Trong, một thành quả không hề nhỏ của quá trình “nhân đôi đất nước” dưới thời các chúa Nguyễn.

Thư viện Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 07 năm 2026

Phạm Tuấn Trường

Phòng Truyền thông – Giáo dục và Quan hệ quốc tế

Tour 360° Tour 360° 360 Tour