So với các dòng tranh nổi tiếng ở phía Bắc như tranh Làng Hồ (Bắc Ninh) hay tranh Hàng Trống (Hà Nội), nghệ thuật vẽ tranh dân gian Nam Bộ có tuổi đời trẻ hơn. Tuy nhiên, điều đó không làm giảm đi tình yêu của người nông dân miền Lục tỉnh xưa dành cho loại hình nghệ thuật bình dân này. Tranh dân gian thường được trân trọng dán trong nhà, trên vách tre hay trang hoàng trang trọng tại gian thờ ông bà.
Trước Cách mạng Tháng Tám, cứ mỗi dịp Tết đến xuân về ở các tỉnh lỵ, thị trấn Nam Bộ lại rộn ràng bởi sự xuất hiện của những nghệ nhân vẽ tranh Tết theo yêu cầu. Thú vị thay nhiều họa sĩ nổi danh của Nam Bộ thuở hàn vi cũng từng tham gia vẽ tranh vào dịp chợ Tết này, hoặc tham gia vẽ phông màn cho các đoàn hát Bội, cải lương.
Sức sống của dòng tranh dân gian này còn đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Minh chứng là trong kháng chiến chống Pháp, bộ tranh Tứ bình của họa sĩ Huỳnh Văn Gấm in tại chiến khu Đồng Tháp Mười đã phát hành với số lượng lớn được nhiều người đón nhận. Thực tế đó chứng minh rằng tranh dân gian hoặc có phong vị dân gian được nhiều người ưa thích, đặc biệt là giới bình dân.
Phát triển mạnh mẽ và có số lượng lưu hành rộng rãi nhất tại Nam Bộ chính là tranh thờ. Hằng năm, số lượng tranh thờ do các nghệ nhân vẽ trực tiếp, hay khắc in mộc bản xuất hiện phổ biến trong đời sống tâm linh của người dân thông qua các tập tục lâu đời.
Vào dịp Tết Nguyên đán, theo tập tục, người ta thường sử dụng:
– Tranh mộc bản bùa nêu – trấn trạch (tục gọi là “bùa nêu ông Cọp”) để trấn giữ sự bình yên cho gia đình và xua đuổi điều xấu, ma quỷ trong năm mới.
– Tranh “cò bay – ngựa chạy”, bộ tranh cúng gắn với tập tục tiễn ông Táo về trời vào ngày 23 tháng chạp và rước ông Táo vào đêm giao thừa là một nét văn hóa vẫn được duy trì bền bỉ đến ngày nay.
– Tranh đồ thế cũng được sử dụng trong lễ cúng Hành khiển – Hành binh trong dịp Tết và trong lễ Nhương căn – Đổi đốt, cúng tạ ơn thần độ mạng cho trẻ con dưới 12 tuổi,…

Tranh “cò bay – ngựa chạy” (Nguồn: Ảnh internet)
Chủ đề của tranh thờ thường tập trung vào các vị thần linh (mà phần lớn là các nữ thần), các “hình nhân” nam nữ, hoặc các con vật, đồ vật gần gũi trong đời sống thường nhật, mà thuở sinh thời người đã khuất thường quan tâm v.v… Nằm ở vùng đất cộng cư văn hóa, tranh thờ Nam Bộ có sự đan xen và ảnh hưởng ít nhiều từ tranh thờ của người Hoa. Bởi vì phần lớn tranh thờ (kể cả tranh thờ của người Việt và tranh thờ của người Hoa) thường được tổ chức in và bày bán ở khu vực Chợ Lớn. Thế nhưng, dòng tranh do nghệ nhân dân gian người Việt chế tác vẫn khẳng định một lối đi riêng, mang phong cách đặc trưng mà những người sành nghệ thuật không bao giờ nhầm lẫn.

Tranh thờ của người Việt và Hoa ở Nam bộ
(Ảnh chụp từ sách “Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ”)
Nhu cầu về tranh thờ ở nông thôn hằng năm khá lớn. Trước năm 1945, ở Long Xuyên, có xã Long Điền A là nơi sản xuất tranh thờ có tiếng. Đến mùa tranh nhiều gia đình ở đây tổ chức vẽ tranh, in tranh mộc bản, rồi rồi chất đầy lên ghe thuyền, xuôi ngược khắp sông rạch để bán. Ở Chợ Lớn, sau ngày giải phóng, người ta vẫn thấy một đoạn phố dài gìn giữ nghề vẽ, in và bán các loại tranh mộc bản đen trắng hoặc tranh in nét đen trên nền màu rực rỡ.
Bên cạnh tranh mộc bản, tranh kiếng (kính) là một đỉnh cao khác của nghệ thuật tạo hình dân gian Nam Bộ. Đây là sự kết hợp tài hoa giữa các nghệ nhân người Việt và người Hoa với quy trình chế tác vô cùng nghiêm ngặt.

Nghệ nhân vẽ tranh kiếng ở tiệm tranh kiếng Vĩnh Huê
(Tiệm vẽ tranh kiếng cuối cùng ở Chợ Lớn) Ảnh: Lê Vân – Báo Thanh Niên
Quy trình nghệ thuật làm tranh trên kiếng tương đối phức tạp, đòi hỏi tay nghề cao. Trước tiên, người nghệ nhân phải phủ một lớp sáp mỏng lên kiếng, rồi dùng bút kim vẽ lên trên lớp sáp để cho đường nét tạo hình được sắc sảo. Sau đó, nghệ nhân mới nương theo nét kim mà tô màu hoàn chỉnh các hình vẽ và tráng thủy. Một số gia đình làm tranh trên kiếng còn kết hợp được nghệ thuật vẽ, với nghệ thuật sơn, khắc, hoặc khảm, dát vàng, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật dân dã không kém phần lộng lẫy.
Dựa vào công năng sử dụng, tranh kiếng Nam Bộ được chia làm 3 loại hình chính:
– Tranh thờ: Tập trung vào các biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng quen thuộc như Đức Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật Bà Quan Âm, Đức Thánh Mẫu, Bà Thiên Hậu, Quan Công…
– Tranh dựa theo tích chuyện dân gian: Khai thác các điển tích văn học dân gian đầy tính giáo dục như Nàng Út ống tre, Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga, Thạch Sanh – Lý Thông, Thoại Khanh – Châu Tuấn,…
– Tranh trang trí và phong cảnh: Thể hiện các môtíp quen thuộc như đề tài Tứ Linh, Phước Lộc Thọ, Lưỡng long tranh châu,…hoặc cảnh sắc sơn thủy hữu tình, danh lam thắng cảnh của đất nước.
Thú chơi tranh dân gian trên kiếng nhiều khi còn được kết hợp với thú chơi thư họa (viết chữ Hán cách điệu, như các ông đồ viết chữ và viết liễn ngày xuân). Vì vậy, ngay tại một số gia đình làm tranh, có sự hiện diện thường trực của những cây bút thư họa, sẵn sàng phục vụ yêu cầu thư họa (trên giấy hoặc trên kiếng) của khách hàng.
Có thể nói nghệ thuật vẽ tranh dân gian Nam bộ đã xuất hiện từ rất sớm, theo thời gian đã có sự nâng cao liên tục về mặt kỹ thuật và thẩm mỹ. Trở thành mảnh ghép quan trọng góp phần tạo nên sắc thái văn hóa dân gian phong phú và độc đáo của người Nam bộ.
Trải qua thăng trầm lịch sử và sự thay đổi của thời đại, những bức tranh dân gian Nam Bộ mặc dù ngày nay không còn phổ biến như xưa. Thay vào đó, chúng đã bước sang một đời sống mới, trở thành những “kho báu” di sản quý giá lưu giữ linh hồn, ký ức và căn tính của một vùng đất. Sự phóng khoáng trong nét vẽ, nét mộc mạc trong màu sắc và cái tâm tình đôn hậu của người nghệ nhân xưa chính là sợi dây kết nối thế giới tinh thần của thế hệ đi trước với hôm nay.
Trân trọng, gìn giữ và thổi sức sống mới vào dòng tranh này không chỉ là câu chuyện bảo tồn một di sản văn hóa, mà còn là cách chúng ta nuôi dưỡng dòng máu văn hóa dân tộc, để những sắc màu phương Nam ấy mãi chảy trôi cùng dòng mạch văn hóa Việt Nam.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 6 năm 2026
Võ Cư
Phòng Truyền thông, Giáo dục và Quan hệ Quốc tế
- Tài liệu tham khảo:
- Huỳnh Thanh Bình (2024), Tranh dân gian Nam bộ, Nxb Tổng Hợp Tp.HCM.
- Thạch Phương – Hồ Lê (1992), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.



English