MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG PHAN THỊ THẢO NỮ CỰU TÙ CHÍNH TRỊ KIÊN CƯỜNG, SÁNG NGỜI ĐỨC HẠNH

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, hình tượng người phụ nữ không chỉ gắn với hậu phương mà còn trực tiếp tham gia vào các phong trào cách mạng, đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng trong tổ chức và lãnh đạo. Trường hợp Mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Thảo (tên thật Phan Thị Liễu) là một minh chứng tiêu biểu cho phẩm chất kiên trung, bất khuất của nữ chiến sĩ cách mạng, đặc biệt trong môi trường đấu tranh bí mật và nhà tù chính trị.

Mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Thảo, tên thật là Phan Thị Liễu, thường gọi là Hai Thảo, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng Mẹ đã sử dụng nhiều bí danh như: Phan Thị Mai, Ba Lãng, Trương Thị Bản, Lương Thị Hòa.

Mẹ sinh ngày 30 tháng 6 năm 1922, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng tại làng Bảo An, xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng). Cha của Mẹ là đồng chí Phan Nhụy, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1924 và nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. Hai người chú ruột của Mẹ là các đồng chí Phan Thanh và Phan Bối (tức Hoàng Hữu Nam) đều là những người hoạt động cách mạng. Bốn anh chị em của Mẹ là Phan Thị Cúc, Phan Thị Mãn, Phan Thị Kim và Phan Thành Chơn cũng sớm tham gia cách mạng và trở thành đảng viên.

Gia đình cách mạng ấy đã hun đúc nên một người phụ nữ kiên trung. Con trai duy nhất của Mẹ là anh Nguyễn Tăng Liêm, tham gia lực lượng giải phóng quân và anh dũng hy sinh năm 1971 tại Cầu Kè (Trà Vinh). Năm 1995, Nhà nước truy tặng Mẹ danh hiệu cao quý Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng.

Năm 1938, khi mới 16 tuổi, cô thiếu nữ Phan Thị Liễu đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào yêu nước do Đảng lãnh đạo. Đặc biệt trong phong trào công khai tuyên truyền báo chí cách mạng, vận động bầu cử cho hai ứng viên Phan Thanh và Đặng Thai Mai tham gia ứng cử vào viện Dân biểu Trung Kỳ (1938 – 1939). Mẹ là một trong những thành viên tích cực với vai trò: giao liên và tuyên truyền viên. Mẹ đã trực tiếp tham gia phong trào tiền khởi nghĩa, vận động chị em tham gia vào Hội Phụ nữ Cứu quốc, in truyền đơn, biểu ngữ, may cờ và tham gia khởi nghĩa ở xã Hoàng Diệu với vai trò Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phụ nữ Cứu quốc (tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945).

Đến năm 1946, Mẹ được tín nhiệm làm Bí thư Hội Phụ nữ Cứu quốc xã Minh Đức, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam rồi làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phụ nữ Cứu quốc huyện Điện Bàn, Mẹ xây dựng cơ sở và trực tiếp hoạt động cách mạng ở vùng tạm chiếm của thực dân Pháp. Nhờ sự phấn đấu liên tục và tràn đầy nhiệt huyết, tháng 6 năm 1949, Mẹ được vinh dự chiến đấu dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng tại Chi bộ Thân Kiếm, tỉnh Quảng Nam. Bất cứ ở đâu, dù ngay cả trong lòng địch, người nữ đảng viên trẻ vẫn luôn có tác phong gần gũi với quần chúng và luôn được quần chúng che chở, bảo vệ.

Từ năm 1950 đến 1951, Mẹ là cán bộ nòng cốt trong xây dựng phong trào phụ nữ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Giai đoạn 1952 – 1954, Mẹ phụ trách hoạt động của Hội Phụ nữ huyện Điện Bàn, xây dựng cơ sở bí mật trong lòng địch rồi Mẹ làm Bí thư Đảng bộ xã Thanh Sơn. Đến năm 1957, để bảo vệ và tăng cường cán bộ có kinh nghiệm cho mặt trận Sài Gòn, Mẹ được Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng điều về Quận ủy Thủ Đức xây dựng cơ sở cách mạng bí mật ở nội thành.

Năm 1959, Mẹ bị địch bắt lần thứ nhất và bị giam giữ tại nhà tù Chí Hòa và Phú Lợi trong suốt 3 năm. Dù bị tra tấn dã man, Mẹ vẫn kiên cường giữ vững khí tiết, không khai báo, bảo vệ tổ chức. Năm 1964, sau khi được trả tự do, Mẹ tiếp tục hoạt động tại Phân khu IV với cương vị Đảng ủy viên Thị xã Gia Định – Sài Gòn.

Tháng 1 năm 1969, Mẹ lại bị địch bắt và giam giữ 3 tháng, sau khi không khai thác được thông tin gì ở Mẹ, chúng đã trả tự do cho Mẹ. Sau đó, Mẹ tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Đảng ủy Liên quận. Đến tháng 4 năm 1970, Mẹ tiếp tục bị địch bắt lần thứ ba, Mẹ bị giam giữ ở Tổng nha Cảnh sát rồi chúng đày Mẹ ra Côn Đảo giam giữ cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.

Trong chốn lao tù khắc nghiệt, Mẹ luôn là người nữ đảng viên kiên cường, hiên ngang và bất khuất trước kẻ thù. Dù bị địch dùng mọi cực hình tra tấn dã man, Mẹ vẫn luôn giữ vững khí tiết cách mạng của người cộng sản, suốt đời trung thành với lý tưởng cách mạng, không khai báo, bảo vệ cơ sở cách mạng và bảo vệ cán bộ.

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, trong lúc thành phố Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) còn đầy phức tạp và rất nhiều khó khăn, Mẹ luôn là người đảng viên mẫu mực, sẵn sàng nhận nhiệm vụ bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần, dẫu là nơi khó khăn nhất.

Từ tháng 4 năm 1975 cho đến khi nghỉ hưu, Mẹ liên tục được giao giữ các nhiệm vụ quan trọng: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, Trưởng phòng Thương nghiệp quận Bình Thạnh, Phó Chủ nhiệm Công ty rau quả Thành phố Hồ Chí Minh.

Do hậu quả của những năm tháng bị tra tấn và giam cầm, cùng với căn bệnh ung thư dạ dày, Mẹ từ trần ngày 4 tháng 5 năm 1984, hưởng thọ 62 tuổi.

Cuộc đời của Mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Thảo là một minh chứng sinh động cho vai trò và đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ một thiếu nữ tham gia phong trào yêu nước, bà đã trở thành cán bộ lãnh đạo, trải qua nhiều lần tù đày nhưng vẫn giữ vững khí tiết cách mạng.

Không chỉ là biểu tượng của lòng trung thành và ý chí kiên cường, cuộc đời bà còn phản ánh rõ nét đặc trưng của phong trào cách mạng Việt Nam: dựa vào quần chúng, bền bỉ trong đấu tranh và sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc.

Đối với nhân dân quận Bình Thạnh nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung, Mẹ mãi là biểu tượng cao đẹp của tinh thần bất khuất, sống mãi trong lòng các thế hệ hôm nay và mai sau.

Tài liệu tham khảo:

  • Những người con Sài Gòn trong “Địa ngục trần gian” Côn Đảo, Ban liên lạc cựu tù chính trị và tù binh Thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 04 năm 2026

Phạm Tuấn Trường

Phòng Truyền thông – Giáo dục và Quan hệ quốc tế

 

Tour 360° Tour 360° 360 Tour