ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THỊ NHO – NỮ QUÂN BÁO XUẤT SẮC Ở CÀ MAU
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Cà Mau vùng đất cực Nam của Tổ quốc cũng là nơi diễn ra nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt. Đồng thời, cũng là quê hương của nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm. Trong số đó, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Nho là một gương mặt tiêu biểu của lực lượng quân báo địa phương, người đã có nhiều đóng góp thầm lặng nhưng đặc biệt quan trọng cho cách mạng.
Nguyễn Thị Nho (còn gọi là Sáu Anh), sinh năm 1944, quê xã Trần Hợi (nay thuộc xã Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau). Bà nhập ngũ ngày 11 tháng 12 năm 1963, vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1965.

Bà sinh ra trong một gia đình nghèo, là một thiếu nữ lao động cần cù, chồng đi chiến đấu ở chiến trường xa, bà phải đảm đang việc nhà, làm lụng vất vả để nuôi gia đình và tham gia công tác ở địa phương. Năm 1963 quê hương bà bị địch bình định, lập chi khu, chúng bắt bớ bắn giết gây đau thương tang tóc cho đồng bào, trong đó thân nhân của bà có 6 người bị chúng bắt đánh đập, đưa đi tù đày. Trước nỗi đau cá nhân bà đã chuyển hóa thành sức mạnh cách mạng nên tình nguyện xin lên đường chiến đấu.
Trong đơn vị Quân báo tỉnh Cà Mau, bà làm nhiệm vụ mật giao và hoạt động chủ yếu ở địa bàn thị xã là nơi được xem là trung tâm đầu não của địch, luôn bị kiểm soát gắt gao bởi lực lượng tình báo, cảnh sát và các mạng lưới chỉ điểm. Đây là địa bàn đặc biệt nguy hiểm, nhiều cán bộ và cơ sở cách mạng đã bị lộ hoặc phải chuyển hướng hoạt động. Trong hoàn cảnh đó, bà vẫn kiên trì bám địa bàn, bám cơ sở, giữ vững liên lạc, chuyển tin tức và tài liệu kịp thời, phục vụ công tác chỉ huy, chỉ đạo của Tỉnh đội. Hoạt động của bà gắn liền với sự che chở của nhân dân, sự lãnh đạo chặt chẽ của tổ chức và trên hết là lòng dũng cảm, bản lĩnh của một chiến sĩ quân báo.
Từ giữa năm 1969 đến 1973, trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và rút dần lực lượng, chiến sự tại miền Nam vẫn diễn biến quyết liệt, hoạt động truy bắt, kiểm soát an ninh và các đợt “bình định” ở nhiều nơi tăng cường. Ở Cà Mau địch thường xuyên đưa bọn cảnh sát đi vây ráp nhìn mặt phát hiện cơ sở ta, bà bị bọn phản bội nhìn mặt, “ba lần bị địch bắt, lần sau cùng chúng đưa bà về khám Cà Mau giam giữ hơn 60 ngày”[1] và tra tấn rất dã man, bà chết đi sống lại nhiều lần, cơ thể bị tàn phá đến mức tê liệt một cánh tay nhưng không một lời khai báo, bảo vệ cơ sở, cuối cùng địch phải thả bà. Khi ra tù bà bị bệnh tê liệt một tay nhưng vẫn tiếp tục công tác. Một chặn đường, một khó khăn gian nguy là một thử thách với bà về lòng trung thành đối với Đảng.
Ngoài nhiệm vụ mật giao, bà còn làm công tác xây dựng cơ sở trong lòng địch để nắm tin tức. Bà lên kế hoạch tiếp cận, kết thân làm em nuôi của tên đại úy Năm, phó phòng mật vụ, bà nắm được nhiều tài liệu mật của địch như: quân số, âm mưu, kế hoạch hành quân của bọn tiền khu, phục vụ kịp thời cho việc chỉ đạo tác chiến của cấp trên. Chẳng những hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn bà còn tham gia một số trận đánh gắn với tên tuổi của bà như: “Tháng Giêng năm 1969, bà chỉ huy một tổ trinh sát hợp pháp dùng xuồng gắn máy nghi trang mang quả bom 500 ký đánh sập cầu Hộ Phòng”[2], làm gián đoạn giao thông địch, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao; Năm 1970, bà được giao nhiệm vụ đánh cầu Giá Rai. Cầu này nhiều lần bị ta đánh nhưng không sập, nên địch đề phòng canh gác nghiêm ngặt. Sau khi nhận nhiệm vụ, 6 lần bà đi nghiên cứu thực địa, nắm quy luật hoạt động và sơ hở của địch. “Ngày 18 tháng 11 năm 1970, bà và một trinh sát hợp pháp dùng xuồng gắn máy mang quả bom 700 ký gắn kíp hẹn giờ đánh cầu Giá Rai”[3]. Trên đường hành quân, cách mục tiêu khoảng 1.000 mét, địch kêu xuồng lại đề chở lính đi càn, tình huống diễn ra vô cùng nguy hiểm, địch rất dễ phát hiện, bà tranh thủ nghĩ ra cách đối phó mượn chiếc xuồng khác thay cho chúng, nhờ đó bà đưa quả bom đến mục tiêu đánh sập cầu Giá Rai, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cấp trên giao. Ngoài ra bà còn phối hợp phân đội trinh sát đánh chìm 4 tàu sắt trong thị xã.
Trong 12 năm phục vụ chiến đấu bà đã lấy được “960 báo cáo, tài liệu của địch từ thị xã Cà Mau về Ban Quân báo tỉnh, trong đó có 192 lần bị địch tra xét rất nguy hiểm tưởng chừng như không thể vượt qua, nhưng nhờ mưu trí, bình tĩnh nên bà bảo vệ được tài liệu. Về chiến đấu bà tham gia đánh chìm 4 tàu địch, đánh sập 2 cầu sắt trên tuyến lộ xe Cà Mau đi Bạc Liêu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”[4].
Bà không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác và chiến đấu mà còn giữ lối sống cần cù, giản dị. Đối với đồng đội, bà luôn tận tình giúp đỡ. Với cấp trên bà thể hiện sự khiêm tốn. Còn với nhân dân bà hết lòng phục vụ nên luôn được dân thương, dân mến, dân đùm bọc che chở trong cả những lúc bình yên cũng như lúc khó khăn nguy hiểm. Bà là người phụ nữ đảm đang việc nhà, giỏi việc nước, trước hiểm nguy luôn bình tĩnh, một lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và hết mực vì nhân dân.
Những thành tích nổi bật nêu trên bà được Tỉnh đội cấp 6 giấy khen, 1 bằng khen và 2 lần được bầu chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, đồng chí Nguyễn Thị Nho được Nhà nước đã ký Quyết định tuyên dương Anh hùng lực lượng võ trang nhân dân. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với một nữ quân báo đã cống hiến tuổi xuân, trí tuệ và lòng quả cảm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nguyễn Thị Nho, người phụ nữ “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” đã viết nên một bản hùng ca về lòng yêu nước bằng chính cuộc đời mình. Tên tuổi của bà góp phần làm phong phú thêm truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân Cà Mau nói riêng, của phụ nữ Việt Nam nói chung. Việc tìm hiểu, ghi nhớ và giới thiệu về bà không chỉ là sự tri ân đối với một cá nhân anh hùng, mà còn là cách gìn giữ ký ức lịch sử cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 03 năm 2026
Võ Cư
Phòng Truyền thông – Giáo dục – Quan hệ quốc tế
Tài liệu tham khảo:
- Hội LHPN Việt Nam (2020), Ký ức Phụ nữ Tây Nam Bộ, Nxb Phụ nữ Việt Nam.
- Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Minh Hải (1987), Minh Hải, các Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân , Nxb Thanh Niên.
[1] Theo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Minh Hải (1987), “Minh Hải các Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân” (tr. 36)
[2] Theo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Minh Hải (1987), “Minh Hải các Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân” (tr. 37)
[3] Theo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Minh Hải (1987), “Minh Hải các Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân” (tr. 37)
[4] Theo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Minh Hải (1987), “Minh Hải các Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân” (tr. 37)



English