Đăng ký tham quan
Vui lòng nhập tên
Invalid Input
Email không hợp lệ
Vui lòng nhập số lượng người tham gia
Vui lòng chọn ngày
Vui lòng nhập số điện thoại.
Invalid Input
  

LỄ HỘI NGHINH CÔ – NÉT ĐẸP TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯ DÂN VÙNG BIỂN NAM BỘ

Lễ hội Nghinh Cô (còn gọi là lễ rước Bà Thủy) diễn ra tại Dinh Cô bên chân núi Thùy Vân thuộc thị trấn Long Hải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là lễ hội nước lớn nhất của cư dân ven biển Nam Bộ hằng năm.

z3738168391836 dd0aca3e12ce247205a7ea240b3b09bb

Về nguồn gốc lễ hội Nghinh Cô theo truyền thuyết dân gian, “Cô” vốn là một người con gái từ Bình Thuận theo cha vào buôn bán ở vùng Bà Rịa, Gò Công rồi do mến cảnh, mến người, cô lưu luyến không muốn rời khỏi đất này, bèn xin cha được ở lại. Nhưng người cha kiên quyết buộc cô con gái phải đi về quê cùng ông. Không được toại nguyện, cô gái đã trầm mình tự vẫn nơi Mũi Nhỏ -Bà Rịa. Về sau, cô trở thành hiển linh, nên dân làng lập miếu thờ.

Một truyền thuyết khác kể rằng cô vốn là một liên lạc viên của quân Tây Sơn đã từng qua lại nơi đây (lúc bấy giờ con đường thiên lý từ miền Trung vào Gia Định đi theo ven biển vào Hàm Tân, Bà Rịa…) rồi bị lộ và bị quân của chúa Nguyễn giết chết, về sau trở nên linh hiển và được dân lập miếu thờ. Những cuộc khảo sát sau này cho biết thêm “Cô” tên là Lê Thị Hồng Thủy, con ông Lê Văn Khương và bà Thạch Thị Hà, quê ở Bình Thuận, theo cha vào buôn bán ở vùng Bà Rịa, Gò Công; một hôm thuyền đi ngang qua mũi Thùy Vân, cô bị dây kéo buồm gạt rơi xuống biển. Mặc dù những người cùng đi trên thuyền ra sức tìm kiếm, nhưng vẫn không tìm được cô. Ba ngày sau, xác cô nổi lên nơi vũng Mù U, được bà con ngư dân xã Phước Hải chôn cất tử tế. Về sau cô trờ nên linh hiển, nhập vào xác đồng kể lại cái chết oan uổng của mình. Dân làng lập miếu thờ, lấy ngày cô chết (12/02) để cúng bái hằng năm. Chuyện xảy ra vào năm Gia Long thứ ba (1804), lúc ấy cô mới 16 tuổi. Nhưng gốc gác lịch sử của cô không phải là điều người ta quan tâm nhiều. Nguyên nhân dẫn đến sự tôn sùng, cúng bái và ngày vía cô trở thành một lễ hội lớn (có năm, số người dự lễ lên đến hai, ba chục vạn người), theo truyền thuyết dân gian, là chính sự linh thiêng của “Cô”. Những điều xác tín của ngư dân ở đây cho rằng “Cô” đã từng phù hộ, chở che cho những người làm nghề biển giã, giúp họ tránh được nhiều tai nạn hiểm nghèo giữa nơi sóng nước mênh mông. Những lúc gặp may, tôm cá đầy khoang, hay gặp năm được mùa biển thì người dân thường cúng tạ ơn “Cô” rất to, tổ chức hát bội, ăn mừng… Những lời đồn đại về sự linh thiêng của “Cô” cứ thế lan rộng ra, thu hút khách thập phương ngày càng đông.

Nơi thờ “Cô” từ một ngôi miếu nhỏ, ban đầu bằng cây lá, dần dần lợp ngói âm dương, nằm bên vạn chài, nay qua nhiều lần trùng tu đã trở thành ngôi lăng đồ sộ như một ngôi nhà ba tầng, có bậc tam cấp lên xuống, lưng dựa vào sườn núi Thùy Vân, mặt nhìn ra biển, trông rất uy nghi. Ghe thuyền khi đi ngang qua trước Dinh Cô thường có tập quán dừng lại ngoài khơi, thắp hương cúng vái rồi mới đi tiếp.

z3738168399728 31bb5217585b253c58658ab3dcdf33e1

Bên trong dinh, gian giữa thờ tượng “Cô” , có bốn cô hầu đứng hai bên, bên hữu là án thờ Ngũ vị Nương Nương; bên tả là án thờ Tứ Pháp Nương Nương. Ở tường bên hữu có bàn thờ ông bà thân sinh “Cô”, bên tường phía bên tả là bàn thờ Chúa Cậu. Gian bên cạnh là nơi thờ mẹ Sanh.

Hằng năm lễ hội Nghinh Cô thường mở trong 3 ngày (ngày 10, 11 và 12 tháng 2 âm lịch), ngày chính lễ là ngày cuối cùng. Từ sáng ngày 10 tháng 02 Âm lịch, khách trẩy hội từ các nơi xa đã đổ về đây bằng các phương tiện: xe buýt, xe con, xe lam, xe gắn máy, xe đạp và tàu thuyền. Đến ngày 11 thì khách đã đông nghẹt, các khách sạn, nhà trọ và nhà dân trong thị trấn đầy ắp người. Các đội lân từ các nơi, dàn nhạc ngũ âm từ Trà Vinh và những đội hát múa của một số nơi kết nghĩa với Dinh Cô cũng đã tề tựu đông đủ. Tại nơi dinh thờ, khách lên xuống cúng bái chen chân không lọt. Do vậy, ngay từ sáng ngày 10, ban quý tế đã tổ chức lễ cúng tiên, thường vật dâng cúng chủ yếu là hương hoa và trái cây.

Lễ cầu an được tiến hành tại chính điện tối ngày 11. Tham gia vào buổi lễ tế còn có các vị sư từ các chùa lân cận trong vùng đến tụng kinh, gõ mõ cầu cho quốc thái dân an, mọi nhà, mọi người làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Lễ tế thường kéo dài cho đến nửa đêm.

z3738168399192 56f248f48e06d4666865f2048e8c5489

Lễ Nghinh Cô bắt đầu vào rạng sáng ngày 12. Từ nơi Dinh Cô, vị Chánh tế dẫn đoàn rước tiến về phía mé biển, nơi một dãy tàu thuyền trang hoàng cờ hoa lộng lẫy đang chờ. Tiếp liền đội học trò lễ trong bộ lễ phục cổ truyền, đầu đội mão, chân đi hia, là kiệu sơn son thếp vàng trên để bài vị, có lọng che và có quân cờ đi kèm hai bên. Theo sau kiệu là dàn nhạc ngũ âm và đoàn chèo bả trạo áo quần sặc sỡ. Đến mép nước biển, cả đoàn người lên chiếc “ghe lễ” (tàu lễ) có sức chở cả trăm người. Ghe lễ được trang hoàng đẹp nhất, trước mũi có đặt bàn hương án sơn đỏ, trên có lư hương và mâm trái cây. Các thành phần chính của đoàn rước dưới sự điều khiển của vị Chánh tế được mời lên chiếc ghe lễ. Số còn lại thì phân tán lên các ghe khác.

z3738168402219 c7611f1aef7fef8573592c8013a72afc

Sau tràng pháo nổ ran, vị Chánh tế ra hiệu xuất phát. Đi đầu là chiếc ghe lễ, tiếp theo là mấy chục chiếc ghe nghề lớn, nhỏ nối đuôi nhau. Tiếng máy nổ, tiếng trống chiêng, thanh la, não bạt, tiếng nhạc của dàn nhạc ngũ âm hòa theo tiếng hát chúc nhịp nhàng của đội chèo Bả Trạo, trong khi đoàn thuyền rẽ sóng tiến ra khơi như một con rồng lớn lướt trên mặt nước biển xanh vào buổi sáng sớm. Từ các thuyền những quả bóng bay nhiều màu sắc bắt đầu được tung lên không trung.

Khi đoàn thuyền đến địa điểm đã quy định, thì dừng lại, tạo thành một vòng tròn rộng ở giữa biển khơi.Vị Chánh tế cùng đội học trò lễ bước về phía mũi thuyền làm lễ Nghinh Cô và vái mời “Ông Nam Hải” về dinh để chứng kiến lòng thành của mọi người. (Phần nghi thức lễ ở đây cũng tương tự như lễ Nghinh Ông mà bà con ở đây thường tổ chức hằng năm). Trong tiếng nhạc đệm, đội chèo Bả Trạo cất lên lời ca nhịp nhàng, ca ngợi công đức của “Cô” và của “Ông Nam Hải”, cầu mong những ngày tháng tới tôm cá sẽ đầy khoang, trời yên biển lặng, ghe thuyền đi khơi về lộng được thuận buồm xuôi gió. Hàng chục dây pháo dài từ các thuyền thi nhau nổ làm vang động cả một vùng biển. Khói pháo, khói sóng cuộn với âm thanh của trống chiêng, nhạc cụ tạo nên một không khí tưng bừng, nhộn nhịp, tươi vui của một buổi hội mừng công trong cảnh trời nước bao la.

Khi đoàn thuyền quay về vừa đến bến trước Dinh Cô thì các đoàn múa lân từ từ tiến ra nghênh đón, trong khi hàng ngàn người khác ở trên bãi biển phất cờ, dóng trống, hò reo. Nhiều người lội ùa ra trong nước biển nghênh tiếp đoàn một cách nhiệt thành. Trên bầu trời trong vắt lúc này, hàng ngàn quả bóng bay nhiều màu sắc được tung lên, cùng với hàng trăm con chim ri, chim sẻ, chim áo già…của khách hành hương “phóng sinh” nhân dịp lễ, đang hân hoan vẫy cánh được trở về với cuộc sống tự do.

z3738168410560 de3569874ea6d4eb45706f6d3456fd1b

Kiệu rước được đưa thẳng về dinh, để sau đó tiến hành buổi tế lễ chính thức. Lễ vật dâng cúng gồm có một con heo quay, một con heo sống (làm thịt, để nguyên con), bánh trái và hương hoa. Ngoài lễ dâng hương, dâng rượu, trà còn có múa Tam hiền và múa Mâm vàng. Trong khi đó, tại ngôi mộ “Cô” theo tục lệ chỉ cúng hoa quả.

Tiếp theo buổi chánh tế là lễ Xây chầu – Đại bội (năm nào cũng thế, đều có mời đoàn hát bội về hát cả ngày lẫn đêm). Trên bãi biển, buổi chiều ngày 12 lại diễn ra trò chơi dân gian như múa lân, đấu cờ, múa bông, bắt vịt trên sóng nước…

Tóm lại, lễ hội Nghinh Cô nằm trong hệ thống lễ hội thờ Mẫu – Nữ thần tiêu biểu của ngư dân Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhưng đây không đơn thuần chỉ thờ Mẫu – Nữ thần mà là sự kết hợp của lễ hội Cầu Ngư với tục thờ cúng Thần Biển (Ông Nam Hải) và tín ngưỡng thờ Mẫu – Nữ thần của cư dân địa phương. Đây là một nét đẹp tín ngưỡng của ngư dân Nam Bộ.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2022

Trang Ngọc Thắng

Phòng Truyền thông – Giáo dục – Quan hệ quốc tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Thạch Phương, Lê Trung Vũ, 60 lễ hội truyền thống Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, 1995.
  2. Huỳnh Quốc Thắng, Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ - khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc. Luận án tiến sĩ ,Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.